Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z4664582730042_7c995aeecd8caaab2d0cbff3adc3deb2.jpg Z4664624167362_eb17c66831ed3172335b7a3e1179e01b.jpg Z4664605476951_d4d6e9e9ffdae9601fc22056cb51a08c.jpg Z4664582730042_7c995aeecd8caaab2d0cbff3adc3deb2.jpg Z4664604282067_4588168aacf95b9042ed571b9b409b8d.jpg TN_may_bay_kinh_hoang.jpg TN_may_bay_kinh_hoang.jpg Pho_cap_tin_hoc_cong_dong.jpg Pho_cap_tin_hoc_cong_dong.jpg Mi_171_bi_roi.jpg Mi_171_bi_roi.jpg MI_171.jpg Gioitreoakhoctheolinhcuudaituongvonguyengiap_1.jpg DSC_7401.jpg 7575.jpg IMG_1051.jpg IMG_10541.jpg IMG_1056.jpg IMG_0655.jpg

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Huyện Thạch Thất.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Chuyên đề LTVC

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Nguyễn Thị Quyến (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:43' 06-10-2009
    Dung lượng: 147.5 KB
    Số lượt tải: 55
    Số lượt thích: 0 người
    DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
    Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực.
    Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
    Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, dạy cách học cho HS
    Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
    Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.

    II. Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS
    - Phương pháp thực hành giao tiếp( còn gọi là phương pháp giao tiếp.)
    - Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
    - Phương pháp thảo luận nhóm.
    Phương pháp đóng vai.
    Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.
    Phương pháp trò chơi.
    Phương pháp dạy học phân hoá đối tượng
    Tổ chức dạy học bài luyện từ và câu lớp 4 – 5
    1. Đối với bài lí thuyết về từ - câu
    Phần nhận xét: GV phải dẫn dắt, gợi mở, hướng dẫn để HS cần tự rút ra được những điểm cần ghi nhớ về kiến thức chứ không sa và thuyết trình, giảng giải dài dòng hoặc làm thay HS.
    Phần ghi nhớ: Chốt lại những điểm cốt lõi về kiến thức được rút ra qua việc phân tích ngữ liệu.
    Phần luyện tập: là phần luyện tập nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức đã học.
    2. Bài thực hành về từ và câu.
    * Hệ thống về từ và câu ở lớp 4 – 5.
    Bài tập mở rộng vốn từ:
    + Dạy nghĩa từ
    + Hệ thông hoá vốn từ
    + Bài tập sử dụng từ
    - Bài tập luyện từ và câu
    + Bài tập có tính chất nhận diện, phân loại, phân tích.
    + Bài tập xây dựng, tổng hợp( Bài tập lời nói) nhằm dạy HS sử dụng từ và câu
    * Một số lưu ý khi dạy bài thực hành về từ và câu
    - HD kĩ để tất cả HS đều nắm vững, hiểu rõ yêu cầu bài tập. Có trường hợp phải chia cắt BT trong SGK thành những BT nhỏ hơn. Khi giao nhiệm vụ học tập cần chú ý tới tất cả các đối tượng HS trong lớp để đảm bảo dạy học sát đối tượng và phát huy cao nhất tiềm năng của mỗi HS trong giờ học.
    - Tổ chức cho HS báo cáo kết quả trước lớp sao cho có thể kiểm tra được kết quả bài làm của mọi HS. Với bài giải sai, GV không nên chỉ nhận xét chung chung rồi áp đặt cách giải đúng mà cần nêu thành vấn đề để cả lớp suy nghĩ trao đổi. Dựa vào qui trình giải bài tập để hướng dẫn các em tự phát hiện ra lỗi sai, cắt nghĩa đựơc vì sao sai? Tại sao như thế là đúng…Như thế HS không chỉ phân biệt được đúng-sai mà còn biết được con đường đi đến lời giải đúng, có phương pháp học hiệu quả.
    BÀI LUYỆN TẬP RIÊNG NHẰM MỤC ĐÍCH GÌ?
    Bài luyện tập thường giúp HS hiểu biết thêm về một bộ phận kiến thức nào đó,chuẩn bị cho nội dung học tiếp theo hoặc cần lư ý khi sử dụng.
    VD:
    Luyện tập về cấu tạo của tiếng giúp cho HS hiểu thêm về hiện tượng bắt vần trong
    Luyện tập về từ ghép và từ láy để nhằm lưu ý HS về các tiểu loại từ ghép: ghép phân loại, ghép tổng hợp, các kiểu từ láy.
    Luyện tập về động từ: rèn thêm khả năng sử dụng các từ chỉ thời gian đã, đang, sẽ.
    Luyện tập về câu hỏi hướng HS tập đặt câu hỏi chuẩn bị cho HS tìm hiểu các kiểu câu Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?
    Những kiến thức mở rộng trong bài luyện tập là kiển thức không bắt buộc,phải ghi nhớ. GV lưu ý để kiểm tra hoặc ra đề thi.
    Các từ cong queo, cuống quýt, công kênh, cập kênh,…
    có phải là từ láy không?
    - Có những trường hợp chữ viết và ngữ âm không thống nhất hoàn toàn Các trường hợp trên là ví dụ: Phụ âm (cờ) được viết bằng chữ c(xê) trong các tiếng cong, công, cập; chữ k(ca) trong tiếng kênh;q (quy) trong tiếng queo .
    * Những từ trong đó các tiếng vừa có quan hệ về nghĩa, vừa có quan hệ về âm với nhau như tươi tốt, đi đứng, buôn bán, mặt mũi, hốt hoảng, nhỏ nhẹ, học hỏi, hoa hồng, cá cơm, cá cảnh,.. Có phải từ láy không?
    -
    - Trong những từ trên, từ nào cũng có nghĩa, quan hệ giữa các tiếng là quan hệ về nghĩa. Sự giống nhau về ngữ âm chỉ là sự ngẫu nhiên. Vì vậy các từ đó được gọi là ghép (ghép phân loại và ghép tổng hợp).
    VD: tiếng đi (chỉ hoạt động di chuyển bằng châncủa người và động vật) ghép với tiếng đứng (chỉ tư thế của người) để biểu thị một ý nghĩa khái quát hơn.
    * Các từ cây cối, đất đai, chùa chiền, tuổi tác, gậy gộc, mùa màng, chim chóc, thịt thà là từ ghép hay từ láy?
    - Mỗi từ nói trên đều có một tiếng có nghĩa làm gốcvà một tiếng vô nghĩa láy lại phụ âm đầu của tiếng gốc. Do đó hoàng toàn có thể nói đây là những từ láy âm.
    - Có điều những tiếng bị coi như là vô nghĩa như cây, cối, đai, chiền,… xưa kia vốn có nghĩa tương tự như nghĩa gốc. Trải qua quá trình lịch sử, nghĩa của tiếng mờ nhạt dần, chỉ có sơ cứu rất sâu với xác định được nghĩa của chúng, đứng trên quan điểm đồng đại thì không không thể dựa vào nghĩa đã mất để coi các từ trên là từ ghép. Vì vậy ta coi các từ đó là từ láy.
    * Các từ bình minh, cần mẫn, chí khí, tham lam, bao biện, bảo bối, ban bố, hoan hỉ, hào hiệp, hào hoa, hào hùng, haò hứng, hữu hạn, hữu hình,… có phải từ láy không?
    Các từ này có hình thức ngữ âm giống nhau như từ láy, nhưng thực sự đây là những từ ghép Hán Việt có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống từ láy, bởi vì mỗi tiếng trong những từ này đều có nghĩa.
    VD:
    Ban bố = ban (ban hành) + bố (công bố)
    Hoan hỉ = hoan(vui) + hỉ(mừng)
     
    Gửi ý kiến